Sản phẩm
Mặt trống đồng Ngọc Lũ - Sản phẩm quà tặng độc đáo
Dê đồng mạ vàng
Trống đồng đường kính: 20cm
Trống đồng đường kính: 16cm
TRỐNG ĐỒNG ĐK= 10, 5cm
TRỐNG ĐỒNG ĐK = 8cm
TRỐNG ĐỒNG ĐK =7 cm
Chùa Một Cột Hà Nội
Khuê Văn Các đúc đồng
Tranh đồng chữ nhật
Tượng Đức Thánh Gióng - Bản sắc Việt
Ngựa đồng - Tài lộc, may mắn: mă đáo thành công
Rồng thời Lư - đúc đồng tinh xảo
Tượng Nữ Thần Tự Do-đúc đồng tinh xảo
Đầu rồng thời Lư
Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông
Tượng người đánh Golf đúc đồng - phong cách châu Âu -Mỹ
Tượng Di Lặc đặc biệt
Quốc Tổ Vua Hùng
Tỳ Hưu đúc đồng tinh xảo
Trống đồng -ĐK: 16cm
Khuê Văn Các-Biểu trưng đồng gỗ
Chùa 1 Cột - Biểu trưng đồng gỗ
Kim tượng Lư Thái Tổ (Lư Công Uẩn)
Tượng đức ngài Trần Hưng Đạo
Khuê Văn Các - Hà Nội
Trống đồng-ĐK: 20cm
Trống đồng-ĐK:12cm
Tháp Văn Xương đúc tinh xảo
Tượng Bác Hồ đúc đồng tinh xảo

Thông tin liên hệ

Hỗ trợ kỹ thuật
Hotline
0912.867.592
(Mr. Thụy)


Home Tin tức Chi tiết

Trống đồng Đông Sơn - tinh hoa dân tộc

Thanh Hóa ngày nay, vùng đất Cửu Chân xưa với lưu vực sông Mă là một trong những trung tâm thời đại kim khí, địa bàn trọng yếu của Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc thời các vua Hùng, là một trong những trung tâm quan trọng trong việc chế tạo, sử dụng, giao lưu, trao đổi trống đồng cổ của Việt Nam.


Lưu vực sông Mă là nơi phát hiện, sớm khai quật di tích văn hoá Đông Sơn phân bố dày đặc từ đồng bằng, trung du đến miền núi Thanh Hóa (trên 100 địa điểm). Đây cũng là nơi sưu tầm được trống loại I Heger, được mệnh danh là trống Đông Sơn. Trống Đông Sơn phát hiện ở Thanh Hoá nhiều nhất so với các địa phương trên toàn quốc (trên 60 trống) loạiI Heger. Thanh Hoá c̣n là nơi t́m thấy 26 trống loại II Heger tính đến năm 1999 (sau tỉnh Hoà B́nh) và là nơi có 2 di tích thờ trống đồng cổ làm thành hoàng.Nghệ thuật trống Đông Sơn ở Thanh Hoá không tách rời nghệ thuật Đông Sơn nói chung và nghệ thuật trống đồng ở Việt Nam nói riêng. Nền nghệ thuật ấy có cội nguồn từ nghệ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm Tiền Đông Sơn và có sự thống nhất, ổn định ở chính địa bàn Thanh Hoá.
Ngoài những nét chung, nghệ thuật trống Đông Sơn Thanh Hoá có những nét riêng.Về h́nh dáng, ḍng trống lưng thẳng không chỉ ổn định trên trống Đông Sơn ở Thanh Hoá giai đoạn sớm mà c̣n xuyên suốt các loại trống muộn sau này, nhất là những trống loại II Heger ở Thanh Hoá. Tỷ lệ giữa chiều cao và đường kính mặt của trống Đông Sơn ở Thanh Hoá chưa ổn định.


Tư liệu đă khảo sát cho thấy, người Việt cổ ở Thanh Hoá có xu thế muốn mở rộng bề mặt trống, tạo nên dáng trống thấp bè. Điều này về mặt nghệ thuật người Việt cổ đă khắc phục bằng cách tạo cho mặt trống chờm ra khỏi tang dung hoà được hai yêu cầu về mỹ thuật và âm nhạc. Dưới góc độ nghệ thuật trang trí, ngoài những nét chung so với những trống cùng loại phát triển ở nước ta, trống đồng Thanh Hóa có một số nét riêng độc đáo.
Như chúng ta đều biết, những mô típ trang trí chủ đạo của trống loại I Heger là h́nh người hoá trang lông chim, h́nh thuyền, nhà sàn, những ṿng tṛn có tiếp tuyến và tượng động vật. Những mô típ đó được trang trí trên trống Đông Sơn Thanh Hoá nhưng có nét riêng dễ nhận biết.H́nh tượng con thuyền trên trống Đông Sơn ở Thanh Hóa, nh́n chung được khái quát cao. Thuyền có dáng cánh cung, gần với dáng thuyền 'thúng' được đan bằng tre nứa, có chiều dài chỉ gấp 2 lần chiều cao.
Trong khi đó, trống Đông Sơn ở các nơi khác có h́nh thuyền thuôn dài, gợi lại thuyền đua bơi chải, tỷ lệ chiều dài thường gấp 4 đến 8 lần chiều cao. Thuyền được hoá trang h́nh lông chim là một đặc điểm của trống loại I Heger Thanh Hoá. Ở đây, đầu chim có mỏ dài được trang trí không chỉ đầu thuyền, đuôi thuyền mà cả bánh lái.
Điểm đặc thù nữa là trên thuyền không có mái chèo như các thuyền trên các trống khác. Trang trí đầu chim mỏ dài trên bánh lái thuyền và sự thiếu vắng mái chèo là nét riêng biệt của trống Thanh Hoá.


Người trên thuyền được hoá trang lông chim là đặc điểm chung của trống loại I Heger, song trên trống Thanh Hoá số lượng người trên một thuyền không đông, thường chỉ có 2 người; trong khi đó trống loại I ở các nơi khác số lượng người khá đông, thường là 5 hoặc 7 người, thậm chí đông hơn. Bố cục người trên thuyền ở trống Thanh Hoá cũng có nét riêng đáng ghi nhận.Do số người ít (2 người) và trên thuyền không mái chèo, nên thường bố cục một người đứng ở mũi và một người đứng ở cuối thuyền, mặt hướng về phía trước (mũi thuyền) và cùng nâng một cái 'neo'.
Bên cạnh đặc điểm riêng : thuyền h́nh cánh cung, không

mái chèo, bánh lái trang trí đầu chim, người trên rùa trên trống Cẩm Quư, con khỉ trên trống Thạch Thành và đặc biệt hơn cả là chim thiên nga trên trống Hoằng Phụ và con trâu trên trống Vĩnh Hùng phát hiện mới đây. H́nh tượng chim thiên nga và con trâu trên cặp trống này chưa hề gặp trên trống đồng phát hiện ở nước ta trước đây. Thân trống Hoằng Phụ (Hoằng Hoá) có 4 vành hoa văn : 2 vành hoa văn h́nh chim xen 2 vành hoa văn đường tṛn có chấm giữa.


Đáng chú ư là h́nh chim khắc trên trống đồng.Mỗi vành có 4 chim, 2 chim đầu quay lên, 2 chim đầu quay xuống, giăn cách giữa các chim không đều nhau. Chim đầu quay lên mỏ hướng thuận chiều kim đồng hồ, c̣n chim đầu quay xuống mỏ ướng ngược chiều kim đồng hồ.


Khác với h́nh chim Lạc thường thấy trên trống Đông Sơn (mỏ dài và nhọn, cổ dài và vươn thẳng, cánh sải rộng và gần vuông góc với thân, chân cao và gấp khúc), chim trên trống Hoằng Phụ mỏ ngắn, cổ cong, hai cánh xoè cong sải về 2 phía, đuôi và lông chim tả thực.
Điểm đáng chú ư là h́nh chim thiên nga ở đây được diễn tả trong tư thế đang hạ cánh xuống mặt nước. Nghệ nhân xưa đă quan sát khá tinh tế đối tượng miêu tả bằng những nét đơn giản mang tính khái quát cao, bố cục chặt chẽ giữa chim và mặt nước, cánh chim khép hờ dần dần hạ ḿnh xuống, chân ở tư thế chạm nhẹ vào mặt nước gợn sóng, vài tia nước bắn lên. H́nh ảnh chim thiên nga sà mặt nước gợi cho người xem cảm giác ấm cúng, thanh b́nh của đồng quê vùng sông nước.


Trống Vĩnh Hùng (huyện Vĩnh Lộc) thân cao 25,5 cm; đường kính mặt 40cm; đường kính đáy 45cm. Mặt trống không chờm khỏi tang, không có tượng. Tang trống có 3 vành hoa văn (từ trên xuống) : vành 1 hoa văn đường tṛn có chấm giữa không tiếp tuyến, vành 2 hoa văn tam giác nhọn đứng, vành 3 và 4 là hoa văn khắc 4 h́nh thuyền (trên thuyền có người và con trâu). Thân trống có 3 vành hoa văn : vành 1 khắc 8 h́nh con trâu, vành 2 hoa văn ṿng tṛn chấm giữa và vành 3 là hoa văn tam giác nhọn đứng. Chân trống không hoa văn. Về loại h́nh, trống Vĩnh Hùng có thể thuộc loại I Heger nhưng muộn, nếu không phải là loại trung gian I - II Heger.


Đặc biệt là bố cục trâu trên thuyền ở phần tang và con trâu trang trí độc lập ở thân trống. Cả 4 thuyền khắc rất mảnh, mũi thuyền hướng ngược chiều kim đồng hồ, đầu, đuôi và bánh lái trang trí đầu chim có mắt. Trên thuyền có 1 người và 1 con trâu. Người ngồi nghiêng, mặt hướng mũi thuyền, 2 chân dạng, 2 tay nâng vật ǵ đó trang trí h́nh lông chim, người trang trí lông chim, do gió thổi nên những lông chim này bay hất về phía sau, để lộ cơ thể người cường tráng. Sau người là 1 con trâu trong tư thế đứng; đầu to mập, 2 sừng lớn cong thuôn nhỏ dần và cụp đều vào phía trong; mắt trâu mở to, không động tử; cổ ngắn dày, có ú nổi ở vai, dưới cổ có yếm sệ; bụng to tṛn hơi sa, đuôi to có lông bay về phía sau. Tám con trâu ở phần thân cũng có nét tương tự như vậy nhưng kích cỡ to hơn. Bố cục thuyền, người và trâu khá chặt chẽ. Sử dụng chiều bay của lông chim hoá trang trên người và lông đuôi trâu để diễn tả thuyền đang lướt sóng. H́nh tượng con trâu được khắc tạc thành công. Đó là con nghé cái đang tuổi dậy th́ chuyển thành trâu. thuyền ít, trên trống Thanh Hoá đă xuất hiện mới nghệ thuật trang trí tượng vịt thay cho vị trí tượng cóc.


Đó là trường hợp 4 khối tượng vịt trên mặt trống Cẩm Giang. Những nét riêng trong thuật trang trí trống loại II ở Thanh Hoá có thể nêu ra một số điểm chính sau đây : Một là sự xuất hiện đồng thời tượng cóc và tượng voi trên một mặt trống (như trường hợp trống Phùng Giáo); hai là xuất hiện hoa văn khắc các động vật như h́nh con .Theo kinh nghiệm dân gian, trâu cái ở tuổi dậy th́ thường có u nổi ở vai, cổ ngắn lại, bụng hơi sệ. H́nh tượng con vật này hoàn toàn khác với loại ḅ u được khắc trên trống đồng Đồi Ro. Đối với nhà nông, nghé chuyển thành trâu là hết sức quan trọng, bởi đây là thời kỳ bắt đầu sử dụng chúng có hiệu quả cao vào sức kéo, bắt đầu thời kỳ sinh sản. Phải chăng đó là điểm chốt của con vật 'đầu cơ nghiệp' của cư dân văn hoá Đông Sơn. H́nh tượng người và trâu trên thuyền đang lướt sóng ở trống Vĩnh Hùng c̣n có ư nghĩa gợi lên sự giao lưu trao đổi con vật này giữa các vùng bằng đường thuỷ trong quốc gia Văn Lang, thậm chí rộng hơn, xa hơn.


Nh́n chung, trống đồng Thanh Hoá có nét đặc thù, độc đáo, thường là tả thực, dễ nhận biết nhất là giai đoạn muộn. Mối liên kết giữa các giai đoạn trong ḍng phát triển trống Đông Sơn thường biểu hiện rơ qua các hoạ tiết hoa văn h́nh học, c̣n các đồ án hoa văn chủ đạo vừa nêu thường có những đột biến, nhảy vọt.


Trống Đông Sơn là sản phẩm của văn hoá Đông Sơn, một biểu hiện sinh động tài năng, trí sáng tạo và tŕnh độ phát triển cao của tổ tiên chúng ta thời dựng nước. Dưới góc độ văn hoá truyền thống, nghệ thuật trang trí trên trống đồng cổ Đông Sơn đă tiếp thu có chọn lọc từ nhiều thế hệ trước đó. Trong sự phát triển của văn hoá Việt Nam, người ta có thể nhận ra những yếu tố truyền thống tiếp thu từ nghệ thuật trống đồng. Nếu như nhà dân tộc học đă nhận ra những mô típ hoa văn trống Đông Sơn trên cạp váy Mường, th́ nhà nghiên cứu tôn giáo cũng nhận ra sự ảnh hưởng qua lại giữa nghệ thuật Phật giáo với phong cách trang trí trống loại II. Giới mỹ thuật Việt Nam đương đại cũng đă từng tiếp thu một số yếu tố trên trống Đông Sơn làm phong phú thêm nghệ thuật dân tộc.


Nghệ thuật trống đồng cổ là sản phẩm của một tộc người nhất định, phân bố trên địa bàn nhất định và tồn tại trong một thời gian nhất định. 60 trống loại I và 26 trống loại II phát hiện ở Thanh Hoá là của người Việt cổ, phân bố ở địa bàn Thanh Hoá và tồn tại hàng ngh́n năm. Nghệ thuật trống đồng xứ Thanh trong tâm thức người Việt cổ ít biến động trong không gian, nhưng luôn biến đổi theo thời gian. Khảo sát nghệ thuật trống đồng Thanh Hoá mang tính địa phương của một vùng phân bố đậm đặc di tích văn hoá Đông Sơn. Đặt trống đồng cổ loại I và loại II trong thời gian của nó, chúng ta có thể lư giải sự biến đổi mang tính lịch sử. Qua ngh́n năm Bắc thuộc, rồi chung tay xây dựng quốc gia độc lập, tự chủ càng chứng tỏ sự trường tồn của một nền văn hoá.


Dưới góc độ bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật trống đồng văn hoá dân tộc đă và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, cả yếu tố truyền thống lẫn t́nh cảm. Trong cơn sốt nguyên liệu đồng, nhiều người đă sử dụng máy ḍ kim loại để săn t́m trống đồng c̣n trong ḷng đất, cùng với nó là việc mua bán đồ cổ, nhiều trống đồng đă bị phá huỷ hoặc thất thoát. Một số tư nhân hiện đang lưu giữ trống đồng, đ̣i hỏi quá cao khiến cho việc sưu tầm, nghiên cứu và quản lư trống đồng trở nên khó khăn. Nhiều nơi xuất hiện trống đồng giả, t́nh trạng buôn bán, trao đổi trống đồng vẫn diễn ra. Nhằm bảo vệ di sản trống đồng, cần tiến hành tổng kiểm kê, lập hồ sơ trống đồng trên toàn quốc.
Đây là cách tốt nhất để quản lư trống đồng đă biết.


Xă hội hóa, dành kinh phí thỏa đáng để truy thu những trống hiện c̣n trong nhân dân. Trường hợp nơi nào c̣n, có nhu cầu sử dụng trống đồng cần khôi phục, tổ chức lễ hội trống đồng cùng các hoạt động kèm theo. Đi liền với bảo vệ là phát huy di sản trống đồng. Năm 1998, trống Đông Sơn đă được Chủ tịch nước Trần Đức Lương trân trọng đặt tại trụ sở Liên Hiệp quốc. Qua đó giới thiệu, quảng bá với nhân dân thế giới nét đặc sắc văn hoá cổ truyền Việt Nam , đóng góp chung vào kho tàng văn hoá nhân loại. Nghệ thuật tạo h́nh và nghệ thuật trang trí trống đồng Đông Sơn tự nó toát lên cái đẹp, sự kết tinh rực rỡ văn hóa dân tộc.
Nhiều thế hệ người Việt Nam đă t́m cách khai thác, phát huy giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật Đông Sơn. Chúng ta đă thấy biểu tượng mặt trống đồng trên màn h́nh VTV1; trên b́a các trang sách của Nhà xuất bản Thế giới, trên những phù hiệu của ngành hàng không, du lịch Việt Nam, trên những mô h́nh xây dựng lớn và cả trên văn bằng tiến sĩ khoa học của Việt Nam. Đặc biệt, trống đồng c̣n được người Mường, người Lô Lô và một số dân tộc khác lưu giữ và sử dụng như một di sản văn hoá đặc sắc của tộc người ḿnh.


Thiết nghĩ, sức sống lâu bền của trống đồng không chỉ là tâm thức mà là ở việc khai thác, sử dụng trống trong cộng đồng người Việt hôm nay. Riêng Thanh Hoá, chúng ta cần khôi phục, phát triển nghề đúc đồng tại làng Trà Đông, xă Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá. Gần đây (2006), Hội cổ vật Thanh Hoa phối hợp với các nghệ nhân đúc đồng xă Thiệu Trung đă mở hội thi đúc trống đồng tại Thanh Hóa và tỉnh Thái Nguyên đă có kết quả nhất định. Các trống đúc ra theo hai phương pháp cổ truyền là đổ đồng từ lưng trống và đổ đồng từ ngôi sao trên mặt trống. Hai phương pháp đúc trống đồng đều đạt kết quả khá , song phương pháp đúc trống đổ đồng từ lưng trống khả quan hơn, nguyên vẹn, tạo vẻ đẹp nguyên dáng, thanh thoát như trống đồng cổ xưa nhưng phân tích âm thanh th́ thế hệ hậu sinh c̣n thua xa tiền bối.


Vậy nên tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu về nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn. Xây dựng thí điểm mô h́nh khu công nghiệp-làng nghề đạt tiêu chuẩn về môi trường, kết hợp được cả hai yếu tố làng và nghề (vừa sản xuất - kinh doanh - vừa có dân cư sinh sống nhưng xa nơi sản xuất).Việc xây dựng làng nghề truyền thống tập trung trong thời điểm hiện nay là rất cần thiết. Mục tiêu cơ bản là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi đôi với việc giải quyết các vấn đề xă hội. Phát triển ngành nghề thủ công, đ̣i hỏi phải mở rộng không gian áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tạo mặt bằng ổn định để phát triển sản xuất, chống ô nhiễm môi trường sinh thái.Vấn đề đặt ra khi đưa làng nghề vào sản xuất tập trung là Nhà nước không nên đầu tư diện rộng như các khu công nghiệp mà cần đầu tư chiều sâu cho khu công nghiệp-làng nghề, như xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, ban hành, hoàn thiện cơ chế, chính sách kích cầu ...


Bởi lẽ, làng nghề truyền thống tập trung dưới h́nh thức khu công nghiệp làng nghề là một mô h́nh tổ chức sản xuất c̣n mới mẻ, cần thực thi nhiều giải pháp đồng bộ cùng sự quan tâm, nỗ lực từ nhiều phía. Đó là cơ sở, nền tảng để nghệ thuật trống đồng, nghề đúc đồng Đông Sơn trường tồn cùng thời gian.


Tin tức nổi bật
  • Bức tranh cát h́nh Trống đồng lớn nhất Việt Nam
  • Trống đồng Ngọc Lũ - một kiệt tác của thời kỳ đầu dựng nước
  • Trống đồng - biểu tượng văn hóa Việt Nam
  • Đưa trống đồng nặng gần một tấn ra Trường Sa
  • Trống đồng Ngọc Lũ: Chiếc trống đồng Lạc Việt điển h́nh nhất
  • Trống Đồng Đông Sơn - Văn hóa và xă hội Lạc Việt
  • Trống Đồng Đông Sơn - Phân loại trống
  • Trống đồng Đông Sơn - Nét văn hóa của người Việt Cổ
  • Trống Đồng Việt Nam
  • Phát hiện mặt trống đồng Đông Sơn 2000 tuổi
  • Hoa văn trống đồng với văn hóa người Việt thời Hùng Vương
  • Bí ẩn trống đồng Trung Xuân
  • Khác biệt giữa văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh
  • Giải mă thông tin mặt trống đồng
  • Đông Sơn: Nơi bảo tồn trống đồng của người Việt cổ
  • Huyền thoại trống đồng Đông Sơn
  • Trống đồng Việt Nam
  • Truyền thuyết rồng đẻ 9 con
  • Trăn trở lưu giữ làng nghề đúc đồng
  • Rước lộc, thọ, lộ tŕnh thông thuận với ông thọ cưỡi huơu
  • Chọn mua quà tặng cho lănh đạo, quà biếu sếp
  • Văn hóa tặng quà trong kinh doanh đa Quốc Gia
  • Trống đồng Đông Sơn - tinh hoa dân tộc
  • Hoàng thành Thăng Long sẽ là công viên lịch sử, văn hóa
  • Mối mọt nguy cơ xóa sổ Phố cổ Hội An
  • Trống đồng, biểu tượng văn hóa Việt
  • Bí ẩn về tiếng trống thiêng giữa đại ngàn...
  • Bảo vật quốc gia thạp đồng Đào Thịnh: Một “siêu phẩm” của thời đại Đông...
  • “Trống đồng Thanh Hóa”, một cuốn sách hay và công phu
  • Chứng chỉ hành nghề sẽ tránh được 'thảm họa' trùng tu?
  • Tượng 600 tuổi mất ngón tay v́ khách du lịch
  • Sư tử đá Tàu tràn lan nơi thờ tự Việt
  • Sắp giải mă được bí ẩn nàng Mona Lisa?
  • Đồng đen
  • Hợp kim của đồng
  • Chất liệu đồng trong điêu khắc Việt Nam
  • Mẹo làm - giữ đồ đồng sáng bóng
  • Phát hiện tàu đắm chứa nhiều cổ vật ở Quảng Nam
  • Phê duyệt Quy hoạch bảo tồn di tích Thành Nhà Hồ

    Đồng Mỹ nghệ Thuận Thiên
    Đ/c: Số 17 ngơ 886 Đường Láng, Q. Đống Đa, Hà Nội.
    Tel: 0912867592 ; Email : trongdongvietnam@gmail.com